Đọc hiểu báo cáo tài chính – Báo cáo kết quả kinh doanh

0
740
   
 

Báo cáo kết quả kinh doanh

Trong BCTC thì báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) thường được đọc đầu tiên, rồi sau đó chúng ta sẽ săm soi kỹ bảng cân đối kế toán. BCKQKD cung cấp thông tin về doanh thu, chí phí và thu nhập cuối cùng do công ty tạo ra trong một giai đoạn như một quý, một năm khác so với BCĐKT là báo cáo tại một thời điểm nhất định.

Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tóm lược toàn bộ doanh thu, cùng với chi phí liên đến từng hoạt động kinh doanh và hoạt động khác. giữa các chỉ tiêu trên báo báo KQKD có mối liên hệ mật thiết với nhau và được thể hiện qua công thức tổng quát sau:

Kết quả của từng HĐKD = Tổng doanh thu – Tổng chi phí

Báo cáo kết quả kinh doanh của REE từ 2015 – 2018. Nguồn: cafef

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Đây doanh thu mà doanh nghiệp thu được khi bán sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian (một quý, một năm). Chúng ra cần quan sát xem doanh thu đang có xu hướng tăng giảm hay không thay đổi nhiều. Nếu có sự thay đổi thì điều gì khiến doanh thu thay đổi? có thể do công ty đang mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng tài sản cố định, tăng giá bán, sản phẩm mới… và liệu xu hướng đó còn tiếp tục hay không? Khi xem doanh thu chúng ta cần liên kết với phải thu để đánh giá chất lượng của doanh thu, tuyệt vời nhất là doanh thu tăng nhưng phải thu không thay đổi hoặc giảm; còn nếu doanh thu tăng mà phải thu tăng nhanh hơn (tỷ lệ phải thu trên doanh thu tăng) thì có thể doanh thu đó không thật sự là “doanh thu”.

Giá vốn hàng bán

Là chi phí đầu vào trực tiếp như nguyên vật liệu, và lao động để sản xuất các sản phẩm. Ví dụ cách tính đơn giản của giá vốn của doanh nghiệp bán quần áo như sau: nếu đầu năm công ty có 100tr hàng tồn kho và trong năm công ty nhập thêm 50tr hàng tồn kho, cuối kỳ công ty còn 70tr hàng tồn kho, thì giá vốn hàng bán của công ty trong năm sẽ là 80tr (100 + 50 -70).

Lợi nhuận gộp = Doanh thu – giá vốn hàng bán

Tỷ suất lợi nhuận gộp = Lợi nhuận gộp/Doanh thu

Lợi nhuận gộp là số tiền nhận được của doanh thu trừ đi giá vốn hàng bán. Ví dụ: doanh thu là 100tr trừ đi giá vốn hàng bán là 60tr thì lợi nhuận gộp là 40tr. Còn tỷ suất lợi nhuận gộp là tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu (như ví dụ trên tỷ suất là 40%). Đây là con số khá quan trọng trong BCKQKD, nếu doanh nghiệp hoặc ngành có tỷ suất lợi nhuận gộp cao thì nhiều khả năng doanh nghiệp hay ngành đó đang tham gia vào khâu có giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị (Vinamilk, ngành dược phẩm…), hoặc cũng có thể doanh nghiệp đó có lợi thế cạnh tranh về sản phẩm, sản phẩm có tính độc quyền ( chiếu xạ An phú, Apple…). Tuy nhiên một tỷ suất lợi nhuận quá cao so với trung bình thì khó có thể duy trì được lâu và lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, vì tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút nhiều đối thủ tham gia vào ngành. Tỷ suất lợi nhuận gộp gia tăng có thể công ty đang có sản phẩm hoặc dịch vụ mới, hay tăng giá bán…. Tỷ suất lợi nhuận gộp mà suy giảm thì nhiều khả năng công ty đang bị cạnh tranh hoặc giá nguyên đầu vào tăng mà doanh nghiệp không thể tăng được giá bán hoặc tăng giá bán ít hơn…

Doanh thu tài chính

Là các khoản thu từ tiền lãi cho vay, cổ tức được chia, kinh doanh chứng khoán, chênh lệch tỷ giá, chuyển nhượng vốn…và các khoản doanh thu tài chính khác. Chúng ta cần theo dõi xem doanh thu tài chính đến từ nguồn nào? có sự thay đổi nhiều hay bất thường giữa các kỳ hay không. Thông thường các khoản thu từ cổ tức, lãi tiền gửi ngân hàng thì sự dịch chuyện của chúng khá đều và ít có sự đột biến. Các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều thủ thuật để làm tăng lợi nhuận thông qua việc chuyển từ công ty con sang công ty liên kết, trong những trường hợp này thì chúng ta lưu ý là chúng chỉ xuất hiện một lần và có thể không ta ra dòng tiền thực nào.

Chi phí tài chính

Nó có khá nhiều chi phí khác nhau phụ thuộc vào doanh thu tài chính, nhưng ở đây thì dautuwinwin sẽ trình bày chủ yếu là chi phí lãi vay. Chi phí lãi vay là chi phí phải trả cho số nợ trên bảng cân đối kế toán, đây là chi phí đứng độc lập, và không bị ràng buộc bởi hoạt động kinh doanh. Những công ty có tỷ lệ chi phí tài chính trên lãi gộp cao nhiều khả năng hoạt động trong ngành cạnh tranh cao, đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư (ngành thép, BDS, Xây dựng…).

Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp

Là chi phí bán hàng trực tiếp, gián tiếp và tất cả các chi phí quản lý phát sinh trong kỳ kế toán. Các chi phí này bao gồm lương quản lý, chi phí quảng cáo, lương nhân viên bán hàng… để đánh giá khoản mục này thì chúng ta cần đo tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu. Các doanh nghiệp mà mới mở rộng hoạt động kinh doanh thì tỷ lệ này thường gia tăng khi công ty phải bỏ nhiều chi phí quảng cáo, hòa hồng cho nhân viên… quảng bá sản phẩm nhưng theo thời gian chúng ta muốn tỷ lệ này giữ ở mức ổn định hoặc giảm dần. Những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm độc quyền ít thay đổi thì tỷ lệ chi phí trên doanh thu này ít thay đổi.

Lãi lỗ trong công ty liên doanh liên kết

Khoản này chỉ xuất hiện báo cáo hợp nhất, báo cáo công ty mẹ không có do hạch toán theo giá gốc. Ví dụ: Công ty A liên doanh liên kết với công ty B và nắm giữ 40% cổ phần công ty B. Trong kỳ công ty B lãi 100 tỷ, cty B quyết định 20 tỷ chi trả cổ tức khi đó:

Trên báo cáo riêng của Cty A sẽ ghi nhận là: 40%*20 tỷ = 8 tỷ, 8 tỷ này sẽ được ghi nợ tiền (tiền tăng lên) trên BCĐKT và có doanh thu tài chính trên BCKQKD.

Trên báo cáo hợp nhất của Cty A sẽ ghi nhận là: (100 – 20)*40% = 32 tỷ. 32 tỷ này ghi nhận vào mục lợi nhuận liên doanh liên kết trên BCKQKD, và ghi trên bảng CĐKT ở khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối.

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

là chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh.

Lợi nhuận HĐKD = [Lợi nhuận gộp – (chi phí bán bán hàng + chi phí quản lý doanh nghiệp)] + (doanh thu tài chính – chi phí tài chính) + [Lãi/lỗ liên doanh]

hay: Lợi nhuận HĐKD = Lợi nhuận hoạt động + Lợi nhuận tài chính + lãi lỗ liên doanh

Khi nhìn vào lợi nhuận từ HĐKD chúng ta xem lợi nhuận đó đến chủ yếu từ nguồn nào? từ lợi nhuận gộp, lợi nhuận tài chính hay từ lãi lỗ liên doanh? thông thường tốt nhất là lợi nhuận hoạt động, vì đó thường là cốt lõi của doanh nghiệp và mang tính liên tục.

Lợi nhuận khác

Đây là khoản mục ghi nhận doanh thu và chi phí không thuộc hoạt động kinh doanh, mang tính bất thường, không thường xuyên như bán đất đai, máy móc…trong nhiều trường hợp lợi nhuận khác có thể ảnh hưởng khá nhiều tới lợi nhuận thuần, chúng ta cần xem xét lợi nhuận khác có lặp lại hay không, nếu nó không lặp lại chúng ta nên tách lợi nhuận khác ra khỏi lợi nhuận thuần. Tuy nhiên có một số ít chúng ra sẽ gặp lợi nhuận khác liên tục lặp lại như một số công ty ngành cao su (PHR, TRC) sau một chu kỳ thu hoạch cao su công ty sẽ bán cây cao su khi đó được hạch toán vào lợi nhuận khác; hay Công ty Cổ phần Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh (HAX) lợi nhuận khác của họ là các khoản thưởng, hỗ trợ của Mercedes thường chiếm tỷ trọng lớn trong lợi nhuận thuần và lặp lại thường xuyên thì chúng ta cũng coi như đó là hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp.

Lợi nhuận thuần

Là lợi nhuận sau cùng của doanh nghiệp sau khi lấy doanh thu trừ đi tất cả chi phí và thuế. Đây là nói chúng ra biết được công ty làm ra bao nhiêu tiền sau một kỳ. Chúng ta chú ý là liệu lợi nhuận thuần có thể hiện một xu hướng tăng trừ trước đến giờ hay không? và so sánh lợi nhuận thuần trên doanh thu (tỷ suất lợi nhuận thuần) với các công ty cùng ngành. Những công ty có lợi nhuận tăng biến động lên xuống như hình sin thường là các công ty mang tính chu kỳ, còn các công ty có đường lợi nhuận thể hiện xu hướng nhất quán, xu hướng tăng dài hạn thì tương đương với lợi thế cạnh tranh bền vững.

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS)

Để tính EPS chúng ta lấy lợi nhuận thuần chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành. VD: lợi nhuận thuận của công ty A là 100 tỷ một năm, số lượng cổ phiếu đang lưu hành là 10tr cổ phiếu thì EPS là 10.000đ (100 tỷ/10tr). Đây là con số có ý nghĩa rất lớn đối với nhà đầu tư, vì nó cho biết thu nhập của nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu, EPS càng cao thì giá cổ phiếu càng cao. Con số một năm của EPS không nhiều ý nghĩa, chúng ta phải quan sát EPS trong nhiều kỳ và EPS thường có mối tương quan cùng chiều với giá cổ phiếu.