Đọc hiểu báo cáo tài chính – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

1
476
   
 

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT)

BCLCTT là một báo cáo tài chính, cung cấp thông tin về những nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của Doanh nghiệp. BCLCTT được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền mặt, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của Doanh nghiệp.

BCLCTT có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin, đánh giá khả năng kinh doanh tạo ra tiền của DN, chỉ ra được mối liên quan giữa lợi nhuận ròng và dòng tiền ròng, phân tích khả năng thanh toán của DN và dự đoán được kế hoạch thu chi tiền cho kỳ tiếp theo.

Báo cáo LCTT được lập bằng hai phương pháp là phương pháp trực tiếp và gián tiếp. BCLCTT thường được lập theo phương pháp gián tiếp nhiều hơn, vì nó thể hiện mối liên kết, dễ kiểm tra và đối chiếu với các báo cáo khác tốt hơn phương pháp trực tiếp.

BCLCTTđược lập trên cơ sở cân đối giữa lượng tiền trong kỳ theo công thức:

Tiền tồn đầu kì + Tiền thu trong kỳ = Tiền chi trong kì + Tiền tồn cuối kỳ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phần loại dòng tiền của doanh nghiệp thành ba phần là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư, dòng tiền từ hoạt động tài chính.

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: Đây là nguồn cốt yếu sinh ra tiền mặt cho công ty và cũng là lượng tiền mặt mà bản thân công ty kiếm được từ hoạt động kinh doanh của mình. Lượng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là một chỉ số rất quan trọng với tính thanh khoản, khả năng hoàn trả vốn vay và khả năng đầu tư vào sự phát triển của doanh nghiệp.
Các dòng tiền từ hoạt động kinh doanh gồm: lưu chuyển tiền tệ nhận được từ khách hàng , lưu chuyển dòng tiền thanh toán cho nhân viên hoặc nhà cung cấp, thanh toán hoặc hoàn thuế thu nhập..

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:Đây là dòng tiền có liên quan đến việc mua hoặc bán lại tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác (không liên quan tới việc tổ chức kinh doanh).
Các dòng tiền từ hoạt động đầu tư gồm: Tiền mua sắm tài sản, máy móc, thiết bị; tiền thu từ việc nhượng bán, thanh lí tài sản, máy móc thiết bị; tiền thu được từ việc bán cổ phần của một công ty khác (không nhằm mục đích thương mại).

Phần lớn các giao dịch đầu tư đều tạo ra dòng tiền âm (dòng tiền đi ra), chẳng hạn như chi phí vốn cho tài sản, máy móc thiết bị, mua lại doanh nghiệp và mua chứng khoán đầu tư. Đối với các nhà đầu tư, mục quan trọng nhất trong phần này là chi phí vốn được giả định rằng chi phí này là một điều cần thiết cơ bản để đảm bảo sự duy trì và bổ sung cho tài sản vật chất của công ty nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh .

Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Đây là dòng tiền liên quan đến nợ và các giao dịch vốn chủ sở hữu.

Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính thể hiện dòng tiền liên quan đến việc thay đổi về quy mô, kết cấu cho các hoạt động hoặc các khoản đầu tư của doanh nghiệp và có khả năng hoàn trả tiền mặt cao (cho dù là các cổ đông hoặc là các tổ chức tài chính)
Các dòng tiền từ hoạt động tài chính gồm: Chi trả cho các khoản nợ, Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu tiền chi trả nợ thuê tài chính, trả cổ tức… hoặc : thu từ góp vốn, các khoản vay…
Ở đây, một lần nữa, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư vì mục đích thu nhập thì thứ quan trong nhất với họ là cổ tức được trả bằng tiền mặt .Và các công ty thường phải cho cổ đông cổ tức bằng tiền mặt chứ không phải lợi nhuận.

Lưu ý khi đọc BCLCTT:

Dòng tiền âm không phải lúc nào cũng tốt, dòng tiền dương không phải lúc nào cũng xấu. Dòng tiền âm hay dương chúng ta cần phải có liên kết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và bản chất của dòng tiền đó. Nếu dòng tiền âm từ do tồn kho hoặc từ tài sản cố định thì có thể đang trong quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh (PNJ 2016, CVT 2015…). Nếu dòng tiền âm do thanh lý tài sản thì có thể doanh nghiệp đó đang thu hẹp lại hoạt động kinh doanh.

BCLCTT thì thể hiện dòng tiền quá khứ, và nó ít có tính dự báo hơn so với bảng CĐKT và KQKD.