Đọc hiểu báo cáo tài chính phần 3

2
240
   
 

Bảng cân đối kế toán

Sau khi nhìn tổng quan BCTC chúng ta sẽ đi vào chi tiết các khoản mục có tỷ trọng lớn và tìm hiểu chúng. Mỗi công ty, ngành nghề có một đặc tính riêng về kinh tế nên có sự khác nhau và tỷ trọng các khoản mục. Các công ty cho BDS khu công nghiệp thường có lượng tiền mặt chiếm tỷ trọng lớn, các công ty bán lẻ thì nhiều ở hàng tồn kho, công ty sản xuất thì thường có TCSĐ chiếm tỷ trọng lớn….Ở đây mình sẽ trình bày lần lượt các khoản mục theo thứ tự trên BCTC, còn khi đọc trong thực tế thì chúng ta nên tìm hiểu các khoản mục có tỷ trọng lớn trước.

Tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Lượng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng thấp thì thường là doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả hoặc bị đối tác chiếm dụng nhìn chung việc lượng tiền ít thường thể hiện đây là doanh nghiệp yếu kém. Doanh nghiệp tích lũy được tiền nhiều có thể đến từ một trọng ba nguồn chính là: công ty phát hành thêm vốn, gia tăng vay nợ vay và đến từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc kết hợp các nguồn trên. Để biết lượng tiền đến từ nguồn nào chúng ta theo dõi ở phần vốn điều lệ, nợ vay ngân hàng, và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Nếu một doanh nghiệp gia tăng tiền mặt cùng với đó là doanh thu và lợi nhuận trên BCKQKD cũng tăng trưởng thì điều đó thật tuyệt vời.

Mặc dù tiền và đầu tư tài chính ngăn hạn là hai khoản mục trên mặc dù có tính lỏng cao, ít bị gian lận nhưng chúng ta cần theo dõi nhiều kỳ và kiểm tra tính logic. Nếu công ty làm ăn hiệu quả thì tiền thông thường sẽ được gửi ngân hàng ở kỳ ngắn hạn hoặc dài hạn và khi đó sẽ phát sinh doanh thu tài chính trên BCKQKD, nếu tiền gửi ngân hàng nhiều và trên BCKQKD doanh thu tài chính ít hoặc không tương xứng, không logic thì chúng ta nên cẩn trọng.

Các khoản phải thu ngắn hạn: Khi bán sản phẩm, dịch vụ thì doanh nghiệp có thể thu được tiền luôn hoặc sau một khoảng thời gian nhất định mới thu được tiền, doanh thu phát sinh những chưa thu được tiền gọi là các khoản phải thu. Đây là tài sản của công ty nhưng đang bị đối tác chiếm dụng. Các khoản phải thu có tỷ trọng lớn trong BCĐKT thì thường chứng tỏ doanh nghiệp đang ở vị thế yếu trong chuỗi giá trị. Nếu doanh nghiệp cho thấy một tỷ lệ ổn định các khoản phải thu trên doanh thu thuần thấp hơn đối thủ, hoặc không gia tăng thì thường doanh nghiệp có thể có một dạng lợi thế cạnh tranh nào đó (sản phẩm chất lượng, được ưa chuộng…).

Các khoản phải thu thường khó kiểm chứng, và có nhiều sự tùy biến của lãnh đạo doanh nghiệp ở mục trích lập dự phòng các khoản phải thu. Khoản mục hay hay xẩy ra gian lần tài chính phổ biến, chúng ta nên kiểm tra kỹ khoản mục này ở thuyết minh BCTC, và kiểm tra các đối tác đang nợ tiền của doanh nghiêp nếu nó có tỷ trọng lớn là tỷ lệ phải thu trên doanh thu gia tăng.

Hàng tồn kho (HTK): là sản phẩm công ty đã nhập, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm được doanh nghiệp sản xuất ra. Để đánh giá chấy lượng HTK chúng ta cần xem tồn kho là phẩm gì? Thời gian tồn tại của chúng lâu hay không? Trong tồn kho chủ yếu là thành phẩm hay nguyên vật liệu? Doanh nghiệp mà có HTK gia tăng kèm theo đó là doanh thu, lợi nhuận tăng điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đang tìm được phương pháp có lợi để tăng doanh thu vào lợi nhuận. Nếu HTK không gia tăng nhưng doanh thu và lợi nhuận vẫn gia tăng qua nhiều kỳ, thì đây thường là doanh nghiệp tuyệt vời, có sản phẩm được ưa chuộng, có lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Còn HTK tăng mà doanh thu giảm, lợi nhuận giảm thì đó thường là dấu hiệu xấu, sản phẩm của công ty lỗi thời, sản phẩm không phù hợp với thị trường.

Tài sản cố định (TSCĐ): TSCĐ bao gồm quyền sử dụng đất đai, nhà xưởng, máy móc, tscđ vô hình chúng được ghi theo giá gốc và trừ đi khấu hao lũy kế. Khi theo dõi TCSĐ chúng ta cần xem chi tiết TSCĐ của công ty gồm những gì trong phần thuyết minh BCTC. Quyền sử dụng đất hoặc tscđ vô hình có thể có giá trị thị trường rất lớn nhưng trong BCTC thì chúng được ghi theo giá gốc nên có giá trị nhỏ hơn giá trị thị trường rất nhiều, đây cũng là nơi chứa đựng tài sản ngầm của công ty, nên chúng ta không nên bỏ qua nhé!

TSCĐ là máy móc nhà xưởng tăng lên thì chứng tỏ doanh nghiệp đang mở rông hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đanh giá hiệu quả chứng ta cần theo dõi doanh thu vào lợi nhuận của doanh nghiệp khi đưa thêm TSCĐ vào. Nếu TSCĐ gia tăng mà doanh thu lợi nhuận tăng (nhiều hơn trước khi có thêm TSCĐ) thì chứng tỏ TSCĐ mới có hiệu quả và vượt qua điểm hòa vốn, trong nhiều trường hợp thì sau khi thêm TSCĐ thì cần phải mất sáu tháng tới vài năm TSCĐ thêm mới mới có thể vượt qua điểm hòa vốn (lợi nhuận nhiều hơn so với trước khi đưa thêm TSCĐ).

Tài sản dở dang dài hạn (TSDDDD): Là tài sản công ty đang trọng quá trình xây dựng, khi xây dựng xong thì tài sản dở dang sẽ được dịch chuyển lên thành TSCĐ. Trong quá trình xây dựng tài sản được tài trợ bằng nợ vay thì phần lãi suất trả hàng kỳ trong quá trình xây dựng sẽ được tính vào chi phí xây dựng tài sản. Chúng ta cần hết sức lưu ý nếu tài sản dở dang xây dựng quá lâu rất có thể công ty đang lãng phí nguồn lực vì TSDD không thể kinh doanh hoặc có thể công ty đang dấu lỗ ở đó. Nhìn chung khoản này xuất hiện thì chúng ta muốn thấy nó nhanh chóng dịch chuyển thành TSCĐ

Các khoản đầu tư dài hạn: là nơi ghi nhận các khoản đầu tư dài hạn (trên một năm) như trái phiếu, cổ phiếu, BDS. Các khoản đầu tư dài hạn có thể cho chúng ta biết nhiều về quan điểm đầu tư của bộ máy quản lý doanh nghiệp, họ có đầu tư vào doanh nghiệp tốt có lợi thế cạnh tranh bền vững không, và chúng ta muốn thấy lợi nhuận xuất hiện trên BCKQKD, nếu không có lợi nhuận xuất hiện trên BCKQKD hoặc lợi nhuận thấp thì đó thường là các khoản đầu tư kém.

Trong BCTC cty mẹ thì các khoản đầu tư này được ghi theo giá gốc, phương pháp vốn chủ sở hữu. Các khoản đầu tư này thông thường được phân loại theo tỷ lệ sở hữu: Tỷ lệ sở hữu dưới 20% thì sẽ được hạch toán toán vào tài khoản đầu tư dài hạn, tỷ lệ sở hữu từ 20% đến dưới 50% thì hạch toán vào mục công ty liên kết, trên 50% thì được hạch toán vào tài khoản công ty con (báo cáo công ty mẹ). Các hình thức đầu tư cơ bản sẽ được phân loại như trên nếu như không có thỏa thuận khác.

Lợi thế thương mại: là phần chênh lệch giữa giá mua và giá trị sổ sách, và được phẩn bổ chi phí hàng kỳ vào BCKQKD. Đó có thể là điều tốt nếu doanh nghiệp đang mua một công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững, những cũng có thể là công ty đang mua với giá đắt hơn nhiều so với giá trị thực sự của nó. Để biết được lợi thế thương mại là tốt hay xấu thì chúng ta phải đánh giá được công ty được mua lại, nó có cùng ngành hay tương hỗ cho doanh nghiệp không? Sức mạnh doanh nghiệp có tăng lên sau khi mua công ty đó…?

VD: Công ty A mua lại công ty B với giá 100tr, giá trị sổ sách của công ty B tại thời điểm giao dịch là 60tr thì lợi thế thương mại là 100tr trừ đi 60tr là 40tr, và 40tr được phân bổ vào chi phí hoạt động kinh doanh hàng kỳ trên BCKQKD.

Lợi thế thương mại của MWG khi mua TAG

Còn tiếp…

Dautuwinwin.com

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi nhé!

Tư vấn, cơ cấu Danh mục đầu tư và Quản lý tài khoản Anh/Chị liên hệ:

LH: 097 997 80 68 (zalo )D


BÀI VIẾT LIÊN QUAN