Đọc hiểu báo cáo tài chính – Bảng cân đối kế toán phần 3

0
535
   
 

Bảng cân đối kế toán

Phần thứ hai mà chúng ta quan tâm trên BCĐKT là nguồn vốn của doanh nghiệp, là nguồn tài trợ nên các tài sản của doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp được phân loại thành hai phần là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

1. Nợ Phải trả

Nợ phải trả phản ánh số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh, và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán toán. Nợ phải trả có thể được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, hoặc chia thành nợ thương mại và nợ tài chính.

Nợ thương mại

Nợ thương mại thể hiện tín dụng nhà cung cấp và người bán dành cho công ty (phải trả nhà cung cấp) hoặc là lượng tiền khách hàng đã trả tiền trước cho công ty để nhận lại sản phẩm hoặc dịch vụ sau này (người mua trả tiền trước), và thường không chịu chi phí tài chính. Nợ thương mại có tỷ trọng lớn thì doanh nghiệp sẽ không cần tới nhiều tiền mặt của mình để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, thay vào đó có thể mang tiền đi gửi tiết kiệm, đầu tư để tận dụng tối đa nguồn lực. Người mua trả tiền trước mà giá tăng thì đây có thể là chỉ dấu về tín hiệu trọng tương lai doanh nghiệp có thể gia tăng được doanh thu và lợi nhuận. Về có bản thì khoản này lớn và gia tăng theo thời gian thì thường thể hiện đây doanh là nghiệp mạnh, là công ty có vị thế trong chuối giá trị hoặc ngành đó có vị thế tốt trong chuỗi giá trị mà nó tham gia.

Nợ tài chính

Nợ tài chính: là các khoản vay bằng tiền của doanh nghiệp như vay tín dụng ngân hàng, trái phiếu. Nợ tài chính thì doanh nghiệp phải chịu chi phí tài chính.

2. Vốn chủ sở hữu (VCSH)

Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu và bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh bao gồm: vốn đầu tư chủ sở hữu, thạng dư vốn cổ phần, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ doanh nghiệp.

Cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi

là lượng cổ phần mà doanh nghiệp đã phát hành cho cổ đông, lượng tiền doanh nghiệp thu được thuộc sở hữu của doanh nghiệp và không phải trả lại. Cổ phiếu thường đại diện cho quyền sở hữu của cổ đông trong công ty. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường là những người sở hữu công ty và có quyền bầu ra Hội đồng Quản trị và sẽ nhận được cổ tức nếu như Hội đồng Quản trị biểu quyết chi trả. Cổ phiếu ưu đãi thì không có quyền biểu quyết, nhưng họ trước chi trả cổ tức cố định và được nhận trước cổ đông thường. Cổ phiếu ưu đãi là một dạng lai tạp vừa là vốn cổ phần về mặt kỹ thuật
vì công ty không phải trả lại số tiền ban đầu đã nhận, nhưng chức năng lại giống như một khoản nợ vì cổ ty phải trả cổ tức. Nhưng không giống như lãi trả nợ được khấu trừ thuế từ thu nhập trước thuế, cổ tức trả cho cổ phiếu ưu đãi không được khấu trừ. Vì tốn kém nên các công ty thường tránh xa phát hành cổ phiếu ưu đãi.

Thặng dư vốn cổ phần

Là phần chênh lệch giữa mệnh giá phát hành và giá được phát hành. Ví dụ doanh nghiệp phát hành cổ phiếu có mệnh giá là 10.000đ/cp với giá 15.000đ/cp, thì 10.000đ sẽ được ghi nhận dưới dạng vốn góp chủ sở hữu, 5000đ sẽ được ghi nhận dưới dạng thặng dư vốn cổ phần.

Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

Sau khi trừ đi mọi chi phí, lợi nhuận thuần trên BCKQKD có thể được trả cổ tức, mua cổ phiếu quỹ, hoặc giữ lại để phát triển doanh nghiệp. Khi được giữ lại chúng được ghi lại dưới dạng lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và khoản mục này là số lũy kế hàng kỳ. Đây là con số khá quan trọng, vì nếu lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tăng lên thì giá trị sổ sách của doanh nghiệp tăng lên mà không làm thay đổi tỷ lệ sở hữu của cổ đông; nếu nó không gia tăng đồng nghĩa với việc giá trị tài sản dòng cũng không gia tăng, tài sản không thay đổi thì có vẻ như doanh nghiệp không giúp ta trở nên giàu có được. Khoản mục này nhiều thì công ty cũng sẽ không cần phải đi vay nợ nhiều, mà hoàn toàn có thể tự tài trợ cho hoạt động kinh doanh.

Vốn chủ sở hữu tài trợ cho tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn. Để đánh giá hiệu quả vốn chủ sở hữu ta hay dùng chỉ số ROE (Lãi thuần/vốn chủ sở hữu). Một công ty có cấu trúc vốn tốt là ít sử dụng nợ vay, gia tăng được chiếm dụng, và tích lũy được nhiều lợi nhuận để tự tài trợ cho hoạt động kinh doanh.